Tình hình giá cả thị trường tỉnh Bắc Giang tháng 6 và quý II năm 2018

Ngày đăng: 03-07-2018 <------> Người tạo: quantri <------>

Tình hình thị trường

Quý II/2018, tình hình giá cả thị trường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cơ bản ổn định, không có biến động lớn; hầu hết các nhóm hàng đều ổn định, riêng giá xăng dầu được điều chỉnh tăng, giảm theo giá thị trường thế giới nên đã tác động đến ảnh hưởng đến một số loại hàng hóa, dịch vụ. Qua theo dõi cho thấy thời điểm trước Tết Nguyên đán, giá thịt lợn hơi tăng trên 10% so thời điểm trước đó, nhưng sau Tết giá giảm mạnh khiến nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ “treo” chuồng, không tái đàn dẫn đến nguồn cung giảm, giá tăng cao, người chăn nuôi không còn thua lỗ.

Tháng 6/2018, giá cả hàng hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cơ bản ổn định, tuy nhiên do thời tiết nắng nóng, cộng với sự điều chỉnh tăng giá xăng dầu đã tác động đến giá bán một số loại hàng hóa, dịch vụ như: điện lạnh, đồ uống, giao thông, du lịch... biến động tăng nhẹ. Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang, chỉ số giá tiêu dùng toàn tỉnh tháng 6/2018 tăng 0,88% so với tháng trước và tăng 4,61% so với bình quân cùng kỳ, do tác động của một số nhóm hàng, cụ thể như sau: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,84%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,79%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,21%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,93%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,34%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%; giao thông tăng 0,71%; giáo dục tăng 0,05%. Nhóm hàng chỉ số giảm: văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,04%. Nhóm hàng bưu chính viễn thông cơ bản vẫn ổn định so với tháng trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ toàn tỉnh tháng 6/2018 ước đạt 1.985.068,9 triệu đồng, tăng 1,6% so với tháng trước, tăng 12% so với cùng kỳ, trong đó:

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 1.760.967 triệu đồng, tăng 1,71% so với tháng trước và tăng 11,48% so với bình quân cùng kỳ, trong đó: kinh tế Nhà nước ước đạt 55.930 triệu đồng; kinh tế tập thể ước đạt 1.205 triệu đồng; kinh tế cá thể ước đạt 1.204.322,1 triệu đồng; kinh tế tư nhân ước đạt 529.541,1 triệu đồng;

- Tổng doanh thu hoạt động dịch vụ, lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước đạt 130.716,7 triệu đồng, tăng 0,93% so với tháng trước và tăng 9,06% so với bình quân cùng kỳ, trong đó: kinh tế tập thể ước đạt 22,6 triệu đồng; kinh tế cá thể ước đạt 117.607,9 triệu đồng; kinh tế tư nhân ước đạt 13.086,2 triệu đồng;

- Tổng doanh thu các hoạt động dịch vụ khác ước đạt 63.354 triệu đồng, tăng 0,68 % so với tháng trước và tăng 10,77% so với bình quân cùng kỳ, trong đó: kinh tế Nhà nước ước đạt 7.720 triệu đồng; kinh tế tập thể ước đạt 11,5 triệu đồng; kinh tế cá thể ước đạt 38.937,3 triệu đồng; kinh tế tư nhân ước đạt 14.385,2 triệu đồng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2.300 triệu đồng.

Đến hết quý II năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 11.950.638 tỷ đồng, tăng 11,2% so cùng kỳ, đạt 46% kế hoạch năm. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 10.780.186 triệu đồng, tăng 12,5% so cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ước đạt 1.170.452 tỷ đồng, tăng 9,2% so cùng kỳ.

Diễn biến giá của một số nhóm hàng thiết yếu

- Nhóm hàng lương thực: Qua khảo sát tại một số chợ, cửa hàng lương thực trên địa bàn tỉnh cho thấy, giá bán lẻ các loại thực phẩm ổn định so với tháng trước, cụ thể: gạo khang dân 11.000 - 12.000 đ/kg; gạo bông hồng Chũ (Lục Ngạn) 15.000 đ/kg; gạo tám thơm Yên Dũng 15.000 - 16.000 đ/kg; gạo nếp 25.000 - 27.000 đ/kg; gạo nếp Phì Điền (Lục Ngạn) 35.000 đ/kg.

- Nhóm hàng thực phẩm:

Thực phẩm tươi sống: Giá thực phẩm tươi sống ổn định so với tháng trước, giá tăng so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: thịt sấn mông, ba chỉ 75.000 - 90.000 đ/kg; thịt lợn thăn 80.000 - 90.000 đ/kg; xương sườn lợn 90.000 - 110.000 đ/kg; thịt thăn bò 250.000 đ/kg; bắp bò 280.000 đ/kg; cá chép 80.000 - 100.000 đ/kg, cá chuối 100.000 - 130.000 đ/kg; gà ta lông 80.000 - 100.000 đ/kg, gà ta mổ sẵn 110.000 - 120.000 đ/kg; trứng gà ta 35.000 - 40.000 đ/chục; trứng vịt 25.000 - 30.000 đ/chục.

Rau, củ, quả: Giá rau xanh các loại tại các chợ ổn định với tháng trước, cụ thể: rau muống, rau mùng tơi, cải xanh 17.000 - 20.000 đ/kg; rau dền, rau cải xanh, rau ngót 20.000 - 25.000 đ/kg; bí xanh 10.000 - 11.000 đ/kg, khoai tây 12.000 - 15.000 đ/kg; cà chua 12.000 - 15.000 đ/kg; chanh tươi 20.000 - 22.000 đ/kg.

- Mặt hàng xăng dầu: Trong tháng, căn cứ vào diễn biến giá thành phẩm xăng dầu thế giới nên giá bán lẻ xăng dầu trong nước đã được điều chỉnh 02 lần (lần 1 giữ nguyên giá xăng dầu vào ngày 07/6; lần 2 giảm giá xăng dầu vào ngày 22/6), cụ thể giá điều chỉnh lần 2 như sau: xăng E5 RON92 giảm 329 đồng/lít; xăng RON95-III giảm 334 đồng/lít; dầu diesel 0.05S giảm 234 đồng/lít; dầu hỏa giảm 386 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S giữ nguyên giá. Chi tiết giá bán lẻ của một số mặt hàng ở thời điểm hiện tại như sau: xăng E5 RON92 là 19.611 đồng/lít; xăng RON95-III là 21.177 đồng/lít; dầu diesel 0,05S là 17.460 đồng/lít; dầu hỏa là 16.054 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S là 14.437 đồng/kg.

- Mặt hàng khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG): Do tác động của giá CP (contract price) từ ngày 01/6/2018 nên các doanh nghiệp điều chỉnh giá bán lẻ LPG tăng 18.000 đồng/bình 12kg giá so với tháng 5 năm 2018

- Giá vàng và đô la Mỹ:

Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh, chỉ số giá vàng tháng 6/2018 giảm 1,12% so với tháng trước và tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, đến cuối tháng giá vàng 99,99 trên thị trường tỉnh Bắc Giang giao động ở mức 3.500.000 - 3.550.000 đ/chỉ (mua vào - bán ra).

Tỷ giá đô la Mỹ tháng 6/2018 tăng 0,22% so với tháng trước và giảm 0,01% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, đến cuối tháng tỷ giá đô la Mỹ niêm yết tại các ngân hàng thương mại giao động ở mức 22.900 - 22.970 VND/USD (mua vào - bán ra)./.

Thùy Nhung - Phòng Quản lý Thương mại